Vận mệnh việt nam

Lịch sử Lý số Việt Nam thường gắn liền với các lời Sấm ký, nhỏng sự dự đoán về tương lai và vận mệnh của dân tộc. Sấm là để tiên tri, Sấm ký là ghi lời Sấm, Sấm vĩ là bàn về lời Sấm. Theo quan tiền niệm, “thiên cơ bất khả lộ”, yêu cầu lời Sấm không thể hiện trực tiếp vấn đề đề xuất vừa có tác dụng bảo mật, vừa dùng để bảo tồn lời tiên đoán, khó bóp méo, nạm đổi. Sau phía trên, xin giới thiệu đến quý độc giả bài lược giải tyêu thích khảo về nhân đồ dùng Sư Vạn Hạnh
Bình luận 0
Theo dõi trên
*

Là công thần của ba triều Đinh, Lê, Lý, cũng là người đầu tiên để lại những lời Sấm tiên tri về biến cố của lịch sử dân tộc, những lời Sấm này có trước Sấm Trạng Trình gần đúng 500 năm. Sư họ Nguyễn, (938 – 1018), mất dưới triều vua Lý Thái Tổ. Về sau, vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127) truy vấn tặng một bài kệ thâu tóm thân thế, tư tưởng Vạn Hạnh nhỏng sau:

Vạn Hạnh dung tam tế

Chân phù cổ sấm cơ

Hương quan tiền danh Cổ Pháp

Trụ tích trấn tởm ký

Tạm dịch:

Vạn Hạnh thông cha cõi

Thật đúng theo lời sấm xưa

Quê hương thương hiệu Cổ Pháp

Chống gậy trấn tởm vua

Vạnh Hạnh chẳng những dung thông được ba cõi quá khứ, hiện tại và tương lai, dung hợp Phật, Khổng, Lão, lại còn dung hóa pháp môn Tổng Trì Tam Ma Địa thành lời Sấm nhỏng một khế cơ huyền vi vào việc trị nước, an dân vào buổi đầu của thời đại độc lập quốc gia.Thuở nhỏ, Sư tu ở chùa Lục Tổ, thuộc dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi (vinītaruci), am hiểu Tam Tạng, Bách Luận, Bát Nhã, Hoa Nghiêm,… chú vào về Mật Tông “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” giản dị, ngọn nhẹ rất hợp với văn uống hóa Đông Nam Á, siêng về khoa Tổng Trì Tam Muội, nói lời tiên tri được người đời tin tưởng.

Bạn đang xem: Vận mệnh việt nam

Tượng Sư Vạn Hạnh tại chùa Pháp Vân.

Thiền phái Mật Tông

Nguim Kinh Tổng Trì được chính Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch tại chùa Pháp Vân khoảng 580 – 594. Ông từ Thiên Trúc lịch sự Nước Trung Hoa rồi đến Việt Nam, tu 14 năm làm Tổ sư thiền phái Mật tông tại đất Việt với nhiều thế hệ thiền tăng xuất chúng nhỏng Pháp Hiền (thế hệ II), Định Không (thế hệ VIII), La Quý An (thế hệ X), Vạn Hạnh và Đạo Hạnh (thế hệ XII), Minc Không (thế hệ XIII).

Sau giai đoạn Đại thừa Bát Nhã, tới Đại thừa Duy Thức là những cao điểm phát lên của đạo Bụt nghiêng về trí huệ cao thâm, tới giai đoạn Đại thừa Mật giáo là chặng đường lan tỏa, sâu vào tàng thức cộng thể, bạt ngàn bao bọc các tín ngưỡng thần linh khắp cõi mà không chấp vọng. Vì thế từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ VIII, Mật giáo đã phát lên nkhô cứng chóng vững vàng thành Klặng Cang Thừa từ Tây Tạng sang Trung Hoa , Việt Nam,…

Thần chú của Mật tông hiệu lực linc nghiệm, là thần lực gia hộ triều Đinc, Lê và Lý. Cả trăm trụ bia đá vùng Hoa Lư còn ghi khắc kệ và chú từ thế kỷ thứ X, các cột ghê này đem chú “Phật đỉnh Tôn thắng Đà La Ni” làm chủ yếu như “muôn nghìn ánh sáng làm chúng sinch kinh động mà giác ngộ”.

Ngay từ thế kỷ thử VIII, các nhà sư Mật tông Ấn đã quý phái Nước Trung Hoa và dùng Mật ngôn Thần chú phù trợ triều Đường. Trong những thế kỷ sau, IX, X, XI… trung trung ương Luy Lâu vùng Kinc Bắc là địa điểm gặp gỡ, giao lưu của các danh tăng Ấn, Hoa, Chiêm Thành… lại thêm các nhà sư Việt quý phái Ấn du học nlỗi Sùng Phạm (thế kỷ XI), lịch sự Ấn 9 năm, sau vế chùa Pháp Vân truyền thụ đệ tử là Đạo Hạnh.

Tương truyền, Đạo Hạnh rất tốt pháp thuật, thần thông, đã từng dụng 1 vạn 8 ngàn lần Đại Bi Tâm Đà La Ni, dùng gậy quăng xuống dòng nmong chảy xiết mà gậy dựng đầu lội ngược, nhờ đó diệt được tà sư Đại Điên là kẻ giết phụ thân mình, sau dốc chí tu tập, pháp lực càng cao, có thể điều phục muông thú, mong mưa gió, niệm chú trị bệnh. Đệ tử của Đạo Hạnh là Minh Không cũng có phép thổi một niêu cơm trắng cho cả thuyền quân ăn uống không hết, có phép “rút không gian” chốc lát đưa thuyền từ xa tới tởm thành trị bệnh mang đến vua Lý Thần Tôn (1136) đã bị chứng hóa ra hổ, lông lá đầy người, kêu gào khiếp rợn.

Xem thêm: Tuyển Tập 22 Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn Toán 8 (File Word) Có Đáp Án

Sư Vạn Hạnh với bài "Sấm Cây Gạo"

Vạn Hạnh cùng thế hệ tu học với Đạo Hạnh. Cùng với sư huynh Pháp Thuận, nhì vị quốc sư này đã dùng sấm vĩ, độn số phò trợ vua Lê Đại Hành (980-1005) trong việc trị quốc. Chính sư Pháp Thuận đã giả người lái đò đối đáp với thi vnạp năng lượng với sứ thần nhà Tống là Lý Giác. Ngày từ năm 980, sư Vạn Hạnh đã đoán trmong “nội vào bảy ngày quân Tống sẽ rút lui”, quả nhiên vua Lê dụng mưu ly gián, quân Tống nội biến tự phát lui binh. Vua Lê Đại Hành rất kính trọng sư, Lúc nhà vua muốn đánh Chiêm Thành để cứu sứ giả (Từ Mục) cũng đến hỏi, sư nói trận này đánh tất thành công, không phải vày dự. Quả nhiên, chiến dịch bình Chiêm đã đại thắng, vua Chiêm là Parame bị chém tại trận.

Sau lúc Lê Đại Hành băng hà, Ngọa triều Lê Long Đĩnh tàng bạo bệnh hoạn, Vạn Hạnh đã vì nmong vận động gửi người hiền tài Lý Công Uẩn đăng vương. Thuở thiếu thời, Lý Công Uẩn đến học ở chùa Lục Tổ và gặp Vạn Hạnh tại phía trên. Sư thấy họ Lý có tướng mạo siêu phàm đã thấy làm lạ, biết là chân mạng đế vương. Sư bèn dùng kế viết chữ “thiên tử” lên sườn lưng một con chó trắng ở làng Cổ Pháp rồi truyền rộng lời đoán rằng chó bảo hộ cho năm Tuất, thiên tử sẽ ra đời vào năm Tuất (Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất 974) và xuất hiện vào năm Tuất (Canh Tuất 1010) mang lại thái bình, thịnh trị.

Sấm Cây Gạo

lúc cây gạo bởi vì thiền sư La Quý An trồng ở chùa Minh Châu năm 936 để trấn giữ trcầu thuật yểm Long Mạch của Cao Biền từ Nước Trung Hoa bị sét đánh tróc vỏ và một bài Sấm hiện ra được sử ghi lại nhỏng sau:

Thụ căn yểu yểu

Mộc biểu tkhô hanh thanh

Hòa đao mộc lạc

Thập bát tử thành

Đông An nhập địa

Dị mộc tái sinh

Chấn cung kiến nhậ

Đoài cung ẩn tinh

Lục thất niên gian

Thiên hạ thái bình

Dịch nghĩa:

Gốc cây thăm thẳm

Ngọn cây xanh xanh

Cây hòa đao rụng

Mười tám hạt thành

Sư Vạn Hạnh đoán rằng: Cnạp năng lượng là cội tức là vua, diễu đồng âm với yểu, là vua chết non. Mộc biểu là ngọn cây tức là bầy tôi thanh tkhô nóng là xanh đồng âm với thịnh, nhỏng vậy quần thần sẽ nổi lên.Hòa đao mộc, tía chữ này hợp lại thành chữ Lê, vậy là Lê suy tàn. Thập bát tử, bố chữ hợp lại thành chữ Lý, như vậy họ Lý tất thành.

Cành Đông vào đất

Cành khác lại sinh

Cung Đông trời mọc

Cung Tây ẩn tinh

Đông A kết lại thành chữ Trần, nhập địa là vào đất của nhà Lý. Dị mộc tái sinh tức là nhà Lê khác lại tái sinh (Hậu Lê). Câu tiên đoán này tức là sau nhà Lý đến nhà Trần và sau là nhà Hậu Lệ (Lê Lợi).

Chấn cung (Đông) kiến nhật là thiên tử xuất hiện ở phương thơm Đông, phương Tây lại có một ngôi sao khác ẩn dạng. Có sách bàn là nhà Mạc xuất ở phương thơm Đông (Hải Dương) vì chữ Mạc chứa chữ Đông, Tây Sơn ẩn ở pmùi hương Tây.

Khoảng sáu bảy trăm năm

Thiên hạ thái bình

Ngô Thời Sỹ mang lại rằng “Sét đánh vào cây thành bài Sấm chỉ có 40 chữ mà đủ hêt hưng phế của các đời vào thời gian hơn ngàn năm”. Đủ thấy Vạn Hạnh là một nhà tiên tri của dân tộc, có tầm nhìn ko phải “ngũ bách niên” mà là “thiên niên”, dự đoán cuộc thịnh suy từ đời Đinch về sau. Trải qua cha triều Đinch, Lê, Lý, Vạn Hạnh đã cống hiến trọn đời đến dân tộc và Đạo pháp hành nghiệm. Trcầu Lúc mất, sư để lại bài Kệ: