HUY HIỆU HOA SEN

Vnạp năng lượng kiệnTăng già Bản thệPhật sựPhật PhápVăn uống nghệThỏng viện LamTài liệuHuynh trưởngNgành ThanhNgành ThiếuNgành OanhHuấn luyệnĐặc biệt

Ai là tác giả Huy hiệu Hoa Sen và bài ca Dây Thân Ái?

Tâm Hảo HỒ PHÙNG ________________________________________

*

Tôi đọc cuốn Gia Đình Phật Tử Việt Nam 50 Năm Xây Dựng vì chưng Ban Điều Hợp Trung Ương Gia Đình Phật Tử Việt Nam Hải Ngoại xuất bản, có đề cập đến huy hiệu "Hoa Sen Trắng tám cánh trên nền xanh lá mạ xuất hiện vào thời gian có Đoàn Phật Học Đức Dục (trang 40) và trang cuối cùng (533) có trích nhì câu đầu của bài hát Dây Thân Ái

Tôi đọc từ đầu đến cuối, nhất là thời kỳ thành lập và đoàn ngũ hóa (1943-1953), từ lúc Gia Đình Phật Hóa Phổ và Đoàn Phật Học Đức Dục ra đời.

Bạn đang xem: Huy hiệu hoa sen

Sách trình bày rất rõ ràng và còn in hình nhiều huy hiệu, các bản nhạc thường dùng trong các gia đình Phật tử, hình bìa các tạp chí Phật giáo cũng như Biên bản các buổi họp. Nhưng sách hoàn toàn không nhắc đến tác giả của huy hiệu Hoa Sen và bài ca Dây Thân Ái. Tác phẩm trên đây được ra đời ở hải ngoại là một hạt ngọc đáng được trân quý. Những tài liệu dưới đây chỉ nhằm cung ứng mang đến lần tái bản sau, ngoài ra không có ý gì khác. Động cơ xuất xắc hoàn cảnh nào khiến tôi đặt câu hỏi nầy?

*

Về huy hiệu Hoa Sen: Gia đình Phật Hóa Phổ vị Cư sĩ Tâm Minh, tức Bác sĩ Lê đình Thám làm Phổ trưởng vào năm 1940. Huy hiệu Hoa Sen, trên năm cánh, dưới tía cánh, ra đời trong khoảng thời gian sau đó không xa. Mới đây, Đảng Bharatiya Janata Party (BJP) ở Ấn Độ, vào ngày nhậm chức của Thủ Tướng, đảng viên phất cờ có in huy hiệu Hoa Sen trên năm cánh dưới bố cánh, kết cấu tương tự như huy hiệu Hoa Sen của Gia đình Phật tử Việt Nam. Vậy thì huy hiệu Hoa Sen nào ra đời trước và giữa nhị huy hiệu đó liệu có tương quan tiền gì không? Về bài ca Dây Thân Ái Bài ca Trai Áo Lam của Mạnh Cương, Mồng Tám Tháng Tư (Mừng Khánh Đản) của Lê Mộng Nguyên, Sen Trắng (Bài ca chính thức của GĐPTVN) của Ưng Hội, Phạm Hữu Bình, Nguyễn Hữu Quán, Phật Giáo Việt Nam của Lê Cao Phan, Xuất Gia của Hoàng Lang, Đoàn Liên Hương (Bài ca chính thức của Đoàn Thiếu Nữ Phật Tử) của Hoàng Cang, Trầm Hương Đốt của Bửu Bác là những bài ca xuất hiện trong thời kỳ phôi tnhì của Gia Đình Phật Tử. Hai bài ca thường được dùng trong sinch hoạt của Đoàn, thứ nhất là bài Sen Trắng "Kìa coi đoá hoa trắng thơm, nhìn hào quang quẻ chiếu sáng trên bùn " là bài ca mở đầu mang lại buổi sinc hoạt thường xuyên hay định kỳ, thứ nhị là bài Dây Thân Ái "Dây Thân Ái lan rộng muôn nhà. Tay sắp xa nhưng tyên ổn không xa", hát lúc sắp chia ly, là những bài ca xuất hiện vào cùng thời kỳ nay vẫn còn làm vương vấn biết bao nhiêu kỷ niệm đến nhiều lớp tuổi. Bài Dây Thân Ái mang đến đến nay, rất nhiều người vẫn chưa biết ai là tác giả! Tình cờ, tôi biết ai là tác giả. Tôi và tác giả vẫn thường dùng điện thư để thăm hỏi và tâm tình. Tác giả là một đồng nghiệp, ngành thủy lâm, cùng lớp tuổi với thân phụ mẹ tôi. Nhân chuyện một người bạn tôi, qua điện thư, ngõ ý muốn xuất gia, tác giả đã đề cập vấn đề nầy một cách nhiệt tình, chúng tỏ rất uyên thâm về Phật giáo.

Về lãnh vực chuyên môn thủy lâm, cuộc đời tác giả có thể viết thành một thiên hồi ký. Chính đề nghị tha thiết của tôi về việc viết hồi ký, tác giả thực sự phân vân mãi. Tác giả nghĩ rằng mình là một Phật tử nên quên cái Ngã (Ta) của mình, nhưng vào đồng đội đồng nghiệp viết lẫn nhau biết về cuộc đời của mình thì không biết có nên giỏi không? Thực tình, cuộc đời của tác giả ít ai biết nhiều, kể cả bé cái trong nhà! Thấy tôi tỏ ra thú vị về cuộc đời lang bạt, có có không không, có nhiều đóng góp mang đến đoàn thể Phật tử lúc còn phôi tnhị, tác giả bắt đầu kể cho tôi nghe nhiều chuyện, vào đó có nhắc đến diễn tiến hình thành Gia đình Phật tử Việt Nam. Từ đó, tôi biết tác giả của huy hiệu Hoa Sen và bài ca Dây Thân Ái là Ông Lê Lừng, nay 80 tuổi, đang còn sống ở bên quê nhà. Trích một bài viết của tôi về cuộc đời Ông Lê Lừng "Sau lúc học hết Thành Chung (xưa gọi là Diplome) anh Lừng thi vào ngành thủy lâm vì bản tánh không thích ở một chỗ mà thích đi đây đó. Tôi nghĩ vào cung Mệnh của anh Lừng có lẽ có bộ sao Mã Khốc Khách giỏi Thiên di, Thiên đồng hợp chiếu. Lúc bấy giờ, ngành thủy lâm hoàn toàn vì người Pháp quản trị Không có ai người Việt làm Trưởng Khu (Chef de Cantonnement) . Có một lúc, khi thua kém trận Nhật bản, một số lính thủy (matelot) người Pháp giữ chức vụ Trưởng Hạt (Chef de Division), nhưng đa số không biết chữ. Đó là tình trạng tại Sông Dinch, Khi đi kiểm điểm ghi kích thước cây, cố vì Trưởng cơ quan tiền cầm Sổ Kiểm điểm thì anh Lừng lại cầm Sổ Kiểm Điểm, còn người Pháp thì cầm thước kẹp, thước dây đi đo, cầm buá đi đóng. Năm 1942, anh Lừng vào làm ở Sông Dinh, Trưởng Hạt là Ông Nguyễn Thế Viên, rồi Ông Từ Câu. Sau đó anh Lừng về Phan Thiết, phụ tá mang lại một garde general, người lai Pháp, rồi đến đời Ông Đặng Hiếu Khán. Năm 1960, anh Lừng đổi vào làm Bộ Cải Tiến Nông Thôn, đời Ông Trần Lê Quang. Đến năm 1962, anh Lừng xin về Nha Thủy Lâm. Chính giai đoạn từ 1942 đến 1950, anh Lừng mang lại biết đã học rất nhiều về lâm nghiệp.

Sau 1975, anh ấy chỉ làm vài tháng, rồi cùng gia đình đi làm ruộng ở Phú Hội, Lâm Đồng. Suốt thời gian làm một người kiểm lâm từ 1942 đến đến ngày nghỉ việc về với ruộng đồng, anh Lừng tha thiết với lâm phần, nhưng một mình không làm nên nỗi mùa xuân cho rừng thiêng, dù có thiết tha cũng đành chôn vùi vào kỷ niệm. Ở lớn tuổi nầy, anh Lừng chỉ còn sống với kỷ niệm, âm thầm nhìn lại những tấm hình do mình chụp vào những ngày xa xưa ấy. Là một Nhiếp ảnh viên, những phong cảnh núi rừng thơ mộng và trữ tình như cảnh Biển Lạc, Núi Ông, Lăng Cầu, đầu nguồn sông La Ngà, đỉnh núi Đại Bình, cảnh rừng U Minc, ven theo rừng Đước đã cuốn hút "người săn ảnh" vào kiếp sống rày đây mai đó. Kỷ niệm vẫn còn dạt dào lúc sống vào những buôn Thượng chứa chan tình thân thiết xuất xắc buổi sáng tinc mơ nghe tiếng chyên đa đa kêu tha thiết ở ven rừng.

Cuộc đời của anh Lừng với bản tánh thích tự vị, phóng khoáng, thích làm những việc mà anh mang đến là bình thường mà thật ra không bình thường trong thiên hạ, làm rồi quên đi, sống ở nơi chân trời góc biển như một kẻ lãng tử giang hồ. Anh đã sống thật trọn vẹn với cuộc sống của một người kiểm lâm, leo rừng lội suối, thẩn thờ bên bờ suối một mình hát nghêu ngao hòa điệu với tiếng nước róc rách, chlặng hót trên cành hay dừng chân vào một buôn làng hẻo lánh để hòa mình vào tiếng chày gĩa gạo đêm trăng.

Xung xung quanh nhà anh Lừng đang ở trọ ngày nào cũng có người chết, vào xóm người lăn ra chết quá nhiều. Hồi ấy người ta chỉ ước ao đợi nơi quỷ thần phò hộ, tin tưởng nơi mấy ông thầy pháp nhưng khổ nỗi ông thầy vừa cúng mang lại bệnh nhân xong xuôi trở về nhà thì thầy cũng lăn đùng ra chết. Anh Lừng thấy vậy, bèn ra tay làm liều, thử coi, vì không giúp thì người ta cũng chết, chi bằng cứ làm ẩu theo suy nghĩ của mình, còn nước thì còn tát. Không phải lấy mạng sống con người mà thí nghiệm, nhưng bước đường cùng rồi, không ra tay thì họ cũng chết thôi. Anh đã nghĩ đến thuốc tím (permanganate de potasse) là một hóa chất khử trùng rất tốt, thường dùng để rửa rau, rửa mụt nhọt Anh lấy thuốc tím trộn với nước sôi để nguội rồi mang đến họ uống với phân lượng đàng hoàng thì người bệnh ói ra nước trắng. Thấy có nhiều hy vọng nên hôm sau tiếp tục cho các người bệnh khác uống. Anh cũng cẩn thận làm sổ ghi tên họ bệnh nhân, dung luợng, mang lại uống xong anh còn đạp xe pháo đạp đi thăm thử ai sống ai chết. Lần lần tiếng đồn xa, người ở các vùng khác cũng đến xin anh thuốc. Anh phải nấu sẵn nước, chứa vào lu và phải về dược phòng (pharmacy) ở Phan Thiết mua thêm thuốc tím thì mới đủ cung ứng. Mỗi lần anh mang lại bệnh nhân uống một chai xa xị thuốc, uống một ngày một chai. Có người đến báo là uống thuốc của Thầy Hai mang lại bị bí đái, không đi tiểu được. Anh liền tra cứu sách, đến họ uống lá mã đề. Thế mà cứu mạng sống mang lại khoảng 50 người.

Sau nạn dịnh, gia đình bệnh nhân đem mang đến nào là hột gà, nào nếp, nào gạo thơm, nào nước mắm để "tạ ơn" Thầy Hai, nhưng hồi đó "Thầy Hai" còn độc thân, lúc nào cũng nhớ mình là một Hướng đạo sinh, là một Phật tử, nên quà cáp lăng nhăng đó đều giao đến chủ nhà trọ. Anh Lừng nói nhiều Khi mình "ngu" mà cũng làm được việc! Một thầy lang bất đắc dĩ! Anh Lừng nhắc đến bài ca Dây Thân Ái làm tôi nhớ lại, lúc tôi còn nhỏ, tôi thường hát mỗi khi sắp chia ly các bạn trong Khuôn Hội Phật Giáo Vĩnh Nhơn ở Thành Nội Huế. Anh cũng nhắc đến cái huy hiệu (logo) hoa sen năm cánh màu xanh lục mà các em trong Gia Đình Phật Tử được gắn lên ngực sau khoản thời gian làm lễ nhập Đoàn. Thật không ngờ tác giả của bản nhạc và huy hiệu là bởi anh Lừng sáng tác. Mãi đến bây giờ ít ai biết được điều đó. Việc anh Lừng góp công sức sáng lập Gia đình Phật Hóa Phổ, khởi đầu từ miền Trung, theo anh, là vì chưng nhân duyên cả. Anh ấy vẽ huy hiệu hoa sen vào khoảng năm 1939 tốt 40. Lúc bấy giờ, anh Lừng và Ông Lê đình Luân, đàn ông của Bác sĩ Lê đình Thám, là Hướng đạo sinh Đoàn Đinc Bộ Lĩnh ở Huế. Gia đình không mang đến anh gia nhập Hướng đạo, bảo rằng bọn xì-cút (scout) là bọn vác gậy có bị gầy ốm như kẻ đi ăn xin. Không thực hiện được ý thích của mình, lại thêm bản tánh chuộng tự do, anh ấy bèn thiết lập một chiếc xuồng nang khá rộng rãi sống như kiểu thoát ly gia đình. Ban đêm thì ngủ ở xuồng, ban ngày đi ăn cơm tháng, đi dạy học và viết bài mang lại Bác sĩ Lê đình Thám. Nghề tay trái lúc đó là Tốc ký viên nghiệp dư, viết bài hay viết ghê do Ông Thám đọc để hiệu đính lại và mang lại đăng trên báo Viên Âm. Tiền kiếm được vì dạy học và viết bài đến báo. Lúc đó, đời sống thật lãng mạn vô cùng. Ban đêm, còn gì sung sướng bằng, nghêu ngao giữa giòng Hương Giang lững lờ, đến thuyền trôi về Cồn Hến rủ vài đứa em cùng đoàn Hướng đạo đi ngược giòng nước rong chơi, hò hát trên sông, rồi ngủ thiếp trên xuồng khi nào không tuyệt.

Có lúc, xuồng neo trên Huế, dây neo đứt từ hồi nào, xuồng nhẹ nhàng trôi qua Cồn Hến, đến một nơi nào xa lạ, sáng ngủ đậy mới tốt, anh lại phải chèo ngược lên Huế. Cũng nhờ chiếc xuồng đó mà ngày ngày anh Lừng chèo lên Bến Ngự làm việc kiếm tiền, trưa chèo về dạy mấy em nhỏ. Các em nhỏ nầy là bé nhà nghèo, nhỏ của giới cu ly xe pháo kéo, của giới bán hàng rong, ngủ đường ngủ chợ, cù bơ cù bấc, nghèo đói. Anh đã dạy mang lại các cháu học, đặt bài hát tiếng Việt mang lại các cháu ca hát vào những đêm trăng. Tôi có nhắc đến anh Lừng biết rằng Lúc tôi còn nhỏ có học với nhạc sĩ Ngô Ganh và nhạc sĩ Lê Cao Phan. Bài hát đến nay tôi vẫn còn thuộc nằm lòng: "Con chuột cắp trứng đi không biết làm sao kéo đi, liền gọi Chú khác vô, Chú tê bày mưu tức thì. Anh nằm ngữa bốn chân, anh lo ghì ôm trứng đi. Tôi thì kéo cái đuôi, kéo anh về hang tức thì" vì Nhạc sĩ Lê Cao Phan sáng tác mang đến lũ con nít chúng tôi hát đã có từ lâu lắm, tại sao không dùng những bài hát như thế mà anh phải đặt ra? Anh mang đến biết lúc anh còn ở Huế, hồi 1937, 38 không có ai viết nhạc cho thiếu nhi. Ông Lê Cao Phan hồi đó chưa viết nhạc. Liền đó, anh kể đến tôi một chuyệ⮠vui về nhạc sĩ Ngô Ganh, dạy nhạc lúc tôi còn ở bậc tiểu học, là bạn thân của anh Lừng sau những năm 38, 39. Ông Ganh lãnh dạy mang lại một trường tư ở Hội An của Ông Võ Sằn. Chánh quyền Hội An hồi đó cho là "anh" Ngô Ganh dạy trường "Vô Sản". Trường nầy bị đóng cửa, Ông Ganh về lại Huế, sau làm Giám Đốc Đài Phát Thanh Huế. Chính vì nghe những đứa nhỏ vào xóm ở Đập Đá đêm nào cũng hát, mà nghêu ngao những tiếng Tây không ra Tây, tiếng Việt không ra Việt, nên anh Lừng mới lấy bài hát Tây đặt lời Việt đạy đến chúng hát. Anh Lừng còn làm một mái nhà nhỏ để dạy mang lại các em nhỏ nhà có tiền, lấy tiền đó rủ nhau đi cắm trại, lấy thế làm vui. Lúc tôi đang viết đến đây thì ngẫu nhiên vô cùng anh Lừng lại gửi mang đến tôi thêm một điện thư khác cũng nói thêm về các em nhỏ nhà nghèo.

Anh viết thêm, lúc anh đang lập đoàn trẻ nhà nghèo, dù có tiền đi dạy, vẫn thấy thiếu thốn tiền bạc, nhất là không có đủ lều để bằng hữu ngủ đêm Lúc đi trại. Anh bèn viết thư ra Hà Nội mang lại Nhà Sách Nhất Nam Thư Quán bán bản quyền một cuốn truyện nói về Khoa học Thần bí vày anh dịch từ Pháp văn với giá 8 ngàn đồng. Sồ tiền 8 ngàn đồng lúc đó to lắm vì một lon sữa bò gạo gía chỉ 1 xu mà thôi. Thế là anh cong lưng dịch trong vòng 8 ngày, gởi ra đến họ in, với biệt hiệu là Linch Sơn. Nhận được tiền, một phần anh gửi ra Hội An cho mấy người em, một phần sắm nồi nêu soong chảo và nhất là làm cái lều bằng đệm buồm mang lại các em đi chơi có chỗ ngủ lại đêm. Anh nghĩ rằng anh là người đầu tiên lấy đệm buồm bằng lá buông may thành lều, mặc dù nặng nhưng có còn hơn không. Lúc đó, anh còn viết đến báo Thế Giới ở ngoài Bắc.

Xem thêm: Thi Vào Lớp 10: Cách Tính Điểm Thi Vào 10 Năm 2021, Cách Tính Điểm Thi Vào Lớp 10 Năm 2021

Anh đến biết nói là viết báo, nhưng thực ra là dịch từ những bài vào báo Pioneer của Pháp để gửi đăng. Anh nhận định rằng, phía tả phái, giỏi phía CS, họ không chịu lối giáo dục của Hướng đạo vì họ đến là sản phẫm của đế quốc do một ông tướng người Anh là Baden Powell lập ra để trừ dân Zoulou. Họ lập ra đoàn Pioneer có nghĩa là mở đường khai lối, như Đoàn Thiếu niên, Thanh hao niên Tiền phong bây giờ ở Việt nam. Cùng lúc đó, vào Nam, có tờ báo Khoa học Thần bí bởi Ông Bùi Thiên Lương làm chủ bút, mời anh hợp tác. Tòa soạn nhận được ảnh của anh Lừng gửi vô Saigon để làm Thẻ Báo Chí (carte de presse) họ thật không ngờ người họ mời hợp tác chỉ là "một thằng con nít nhỏ xíu". Thật ra, anh chỉ dịch những sách có sẵn trong tủ sách gia đình. Viết về Lễ Nam Giao, anh có đến tận nơi để nghiên cứu. Còn những bài viết về các lăng tẫm ở Huế thì anh dịch từ các tạp chí của Pháp như Bulletin des Amis du Vieux Hue (Tập san của những người bạn của Huế xưa), rồi còn dựa theo các bài viết còn vẽ thêm các hình vẽ, thế là trong Nam cho là lạ nên đến đăng ì xèo. Trong đám trẻ nhỏ vào đoàn nhà nghèo, cũng có con trẻ nhà có tiền theo học với anh Lừng. Trong đó có Ông Nguyễn văn Thiện sau nầy là Chuẩn tướng Tư lệnh Thiết Giáp thời Ông Diệm.

Tuy là tướng, nhưng mỗi khi ra Phan Thiết đều có đến thăm anh Lừng. Về sau, tướng Thiện đi trên phi cơ nhì chỗ ngồi, bị mất tích rất bí mật ở ngoài biển. Còn trong Gia đình Phật Hóa Phổ có Ông Nguyễn Ngọc Loan, sau nầy là tướng mà anh Lừng mang đến là "ngang bướng", có dính líu tấm hình được giải Pullitzer chụp được vào Trận Mậu thân, đã qua đời.

Về sau, lụt trôi mất chiếc xuồng, anh Lừng phải đi bộ từ Đập Đá lên đến Bến Ngự để làm việc. Gia đình Bác sĩ Thám thấy anh Lừng sống lang bạt, bảo về sống thông thường vào gia đình. Trong gia đình Ông Thám, chiều nào cũng tụng gớm. Anh em trong nhà và các em nhỏ trong xóm cũng đến tụng kinh buổi chiều. Nhân dịp nầy anh Lừng bàn với con Ông Thám thành lập một đoàn hướng đạo rồi gọi là Hướng đạo Phật tử. Ý kiến nầy được Ông Thám chấp thuận nhưng chũm vì lấy tên Đoàn Hướng Đạo Phật Tử thì lấy tên là Gia đình Phật Hóa Phổ. Nếu lập Đoàn Hướng đạo thì phải xin phép chánh quyền thêm rắc rối, chi bằng cứ coi là đoàn của gia đình, phổ biến Phật học vào phạm vi gia đình thôi. Từ đó, Gia đình Phật Hóa Phổ Tâm Minch (Tâm Minh là pháp danh của Ông Thám) hoạt động, và Gia đình Phật Hóa Phổ là một tổ chức Gia đình Phật tử đầu tiên vậy.

Gia đình Phật Hóa Phổ có mục đích phổ biến đạo Phật, dạy cho các em nhỏ biết lòng tin chân chánh, theo đạo đúng đắn, không bị mê tín dị đoan làm mê lầm. Lần lượt các nơi khác ở Huế cũng thành lập theo mô thức đó, chẳng hạn như gia đình Ông Tôn thất Tùng ở Bến Ngự bởi Ông Đinc văn Nam mà anh Lừng lúc đó gọi là anh Nam (ni là Hòa Thượng Thích Minc Châu) phụ trách, ở Vỹ Dạ có gia đình Ông Nguyễn khoa Toàn, ở Bến Ngự còn có gia đình Ông Nghè Khác ủ trương lúc đó là ngăn cấm không mang đến các em nói tiếng Việt trộn tiếng Pháp, hễ nói tiếng Pháp thì phải nói nguyên câu.

Những lần đi cắm trại gần Nam Giao như Tứ Tây, Trúc Lâm, Tây Thiên, tốt vào các rừng Thông tại Huế, anh Lừng làm Trại trưởng. khi về nhà anh ta viết một bài tả lại cuộc cắm trại đó và đăng trên báo. khi Đoàn Phật Hóa Phổ đã đông, anh Lừng tự hỏi tại sao mình không có một huy hiệu đeo trước ngực như anh em bên Hướng đạo khi làm lễ tuyên thệ có đeo huy hiệu Hoa Huệ (fleur de Lis). Anh Lừng bèn tự ý vẽ ra, không bắt chước của ai, cũng không phải "vì chưng nằm mộng" thấy hoa sen, miễn sao đơn sơ và đẹp.

Sau nầy có Đoàn Phật Học Đức Dục, gồm những vị có học thức mà muốn tìm hiểu thêm Phật giáo, cũng dùng huy hiệu hoa sen nầy nhưng thêm mấy chữ viết tắt PHĐD ở phía trên. Đoàn Phật Học Đức Dục gồm các em lớn tuổi hơn các em trong Gia đình Phật Hóa Phổ, vì chưng Bác sĩ Thám dắt dìu nhằm đào tạo tkhô nóng niên trí thức làm rường cột đến việc hoằng dương chánh pháp. Nhưng anh Lừng không ngờ sau thời điểm rời khỏi Huế vào Nam làm Kiểm lâm, huy hiệu hoa sen lại được phổ biến khắp toàn quốc, nhất là miền Trung. Từ chùa chiền, đình miếu, xuất xắc trụ sở các Hội Phật học, đến đến các quan lại tài cũng trang trí hình hoa sen đó.

Cũng trong thời gian trên, bài hát Dây Thân Ái ra đời cùng với nhiều bài hát khác. Sau nầy, anh Lừng mang lại rằng việc anh vẽ huy hiệu hoa sen, trên năm cánh, dưới bố cánh có liên hệ đến vấn đề nhân quả và nhân duyên. Tôi ngạc nhiên tại sao liên hệ nhì vấn đề nầy thì được anh giải thích coi bộ rất là lý thú. Anh nghĩ rằng kiếp trước anh là một người thợ đục đá (sculpture) trong một ngôi đền thờ nào đó bên Aᮍ Độ. Lý vị là cách đây không lâu, khi xem truyền hình, anh Lừng thấy trong một cuộc bầu cử ở AᮠĐộ, các đảng viên Đảng BJP (Bharatiya Janata Party) có nâng cao và phất cờ có huy hiệu hoa sen của Đảng BJPhường, cũng trên năm cánh, dưới ba cánh tương tự như hoa sen mà anh Lừng đã vẽ khoảng năm 1939, 40. Theo ông Lừng, đây là một sự trùng hợp lạ lùng. Nhớ lại lúc anh đang làm kiểm lâm, có một người AᮠĐộ tự nhiên vào nhà tình nguyện coi bói toán mang lại anh.

Anh vốn không tin và không thích bói toán nhưng Ông ấy đã nói thì cũng nghe coi sao. Ông thầy bói bảo rằng kiếp trước của anh Lừng là một Hoàng tử Ấn Độ, có ngôi chùa, sau phạm lỗi, mới sinh anh Lừng ra tại Việt phái mạnh. Đối với anh Lừng, đó là chuyện tào lao, nhưng anh tự nghĩ, vào số 7 người bé của anh, có 3 người (2 người hiện ở San Jose, 1 người ở Vũng Tàu) sao giống Ấn Độ vô cùng, cũng mắt to lớn, có quầng đen bảo phủ mắt, mũi dọc dừa, nét mặt Ấn Độ hoàn toàn. Nhân tôi đề cập đến tình hình anh em cựu tù nhân chính trị qua Mỹ theo diện H.O. thì mới biết anh Lừng cũng là một chiến hữu, đồng màu cờ sắc áo.

Anh bị động viên vào quân trường Thủ Đức vào một vào những khoá đầu tiên. Vì là khóa phụ, toàn là bộ binch, không như các chính khóa có việc chọn lựa các binh chủng như Pháo binch, Truyền tin, Quân nhu, Thiết giáp Trọn khóa phụ nầy, gồm 3 Đại đội, đều phải đi tác chiến. Một số người có năng khiếu huấn luyện, như anh Lừng, thì được đến đi học Huấn luyện viên tác chiến (combat) vào ba tháng ở Vũng Tàu.

Ở đây cũng có người Pháp dạy và tân binc thì bởi các nơi đưa đến cho đồng khóa của anh Lừng thực tập huấn luyện. Anh Lừng sáng tạo ra lối dạy lính mang đến dễ nhớ và dạy theo cách anh làm thơ hay đúng hơn là làm vè, bởi vì đó anh được xếp hạng Sĩ quan tiền ưu tú (officer de valeur) rồi cùng khóa trở ra Suối Dầu Nha Trang, ở vào các "chuồng bò" chờ ngày Trường Biệt Động Quân Đồng Đế xây dựng dứt rồi ra đó dạy. Suối Dầu là nơi ở tạm của Sĩ quan bổ nhiệm đến Trường Đồng Đế. Các đồng đội khác thì chờ, nhưng riêng anh Lừng thì được cử phụ trách Phòng Họa, vẽ các tranh con ảnh lớn làm trợ huấn cụ như các cách tập mang lại tân binc, cơ bản thao diễn, động tác thể dục, các bộ phận khí cụ như súng, lựu đạn .Họ lựa anh Lừng chỉ huy Phòng nầy vì anh có khiếu vẽ. Vả lại, trong đời dân sự trước đó, anh Lừng có học hàm thụ Trường En le ABC de Dessin ở Paris, nên có chút kiến thức về hội họa. Lúc đó, ở Suối Dầu không có tuyển mộ tân binc nào cả. Trong khoảng thời gian 1951, 52, Tuy là Huấn luyện viên tác chiến, anh lại được cử làm Chánh Sở Hành Chánh gồm các phòng quân vụ, tài chánh, vật liệu, quân xa mang đến Trường Biệt Động Đội và Thể Dục là Trường dạy cho cấp Trung sĩ. Mỗi Phòng có một Thiếu úy đồng khóa phụ trách. Trường nầy, lúc đồng khóa của anh mới đến, chỉ có nhị dãy là nhà xây dùng làm nơi làm việc và văn phòng.

Còn chỗ ở của Sĩ quan lại và bạn bè binc lính đều là nhà tranh mãnh, dần dần mới xây nhà ngói. Chính anh đã vẽ cho Trường Biệt Động Quân huy hiệu lưỡi kiếm nằm trên đầu con báo đen. Thời gian nầy, tánh anh anh Lừng trọng nguyên tắc quân đội (réglo) nên đồng đội ít ưa nhưng ngược lại đối với bạn bè lính tráng cấp dưới thì rất thương. Hồi đó, mỗi Sĩ quan liêu đều có một người lính phục vụ. Ai cũng bắt lính xách nước vô phòng mang lại họ tắm, còn anh Lừng thì ra tắm bình thường với anh em lính ở giếng công cộng. Khi giải ngũ về làm kiểm lâm ở Phan Thiết, một lần nọ, có một số bằng hữu ở Đồng Đế đi công tác ở Bình Thuận, gồm một Tiểu đội. Họ tìm dến nhà anh Lừng, sắp hàng dài, có một Trung Úy người Huế chỉ huy đồng đội, nào nghiêm, nào chào đúng lễ nghi quân cách. Họ mời anh Lừng ra và trình diện y hệt như lúc còn quân trường, đến thăm Trung úy. Thế rồi, anh Lừng cãm động quá, cũng đi bắt tay từng người như lúc còn trong quân trường, lại là dịp mang đến cuốn phyên ổn dĩ vãng đời quân ngũ trở về vào trí nhớ. Đây là câu chuyện bởi vì anh Lừng kể nhằm khéo léo trả lời trực tiếp một điện thư của tôi hỏi về cấp bậc cuối cùng vào quân ngũ của anh trước Lúc giải ngũ.

Lúc tốt nghiệp ở Thủ Đức, người bạn thân của anh là "anh" Phạm Kyên Đỉnh trước 75 là Trung tá phục vụ ở Bộ Quốc Phòng, nay ở Pháp, gắn huy hiệu Thiếu úy lẫn nhau Khi ra Trường. Ông Đỉnh tặng cho anh Lừng một bài thơ như sau: LÊ gót sắt trên đồi dưới ruộng, LỪNG tiếng tăm vào mến ngoài thương. Thân tặng anh nhớ những buổi chiều Mến người bạn quý nhìn đời xa xa. Chính người bạn thân nầy đã góp bàn tay giúp đến anh Lừng trong việc xin giải ngũ, thỏa mãn được mong mỏi ước của mình "là một người phụ thân tốt, người chồng tốt", là không bao giờ muốn sống xa vơ bé, đồng thời tìm cơ hội để thoát khỏi bộ áo ka-ki, "sợ chết vì chiến tranh". Anh Lừng ở vào quân đội trên nhị năm thì giải ngũ.

Anh Lừng hiện ni cùng gia đình ở Gia Định nhưng dưới nhãn quan của anh, anh đã xuất gia. Bởi vì xuất gia là gì, theo anh, là ra khỏi ngôi nhà phiền não, chớ không có gì khác. Bỏ qua những gì canh cánh bên lòng, nhất là những việc trước mắt, không thể xuất xắc chưa thể thực hiện được. Việc gì có thể bỏ qua được mang đến nhẹ nhàng thì bỏ qua đi: không trách ai, giận ai, phiền ai cả. Giữ tấm lòng tkhô nóng thản nhẹ nhàng, quên đi những ân oán cũ, tuyệt những phiền não cũ mà hiện nay thấy là vô ích. Nói bình thường, tránh phiền não.

Chính nhờ có computer, anh Lừng có công việc làm hằng ngày khá bận rộn: soạn gớm, trả lời và viết thư gởi bạn bè. Việc soạn tởm của anh là gom những ý chính (phần nhiều rất khó hiểu), tóm lại mang lại dễ hiểu nhưng vẫn giữ ý chính và viết lại mang lại những người mới học. Anh in ra từng đợt độ 9, 10 cuốn gởi cho những Chùa nghèo thiếu gớm ở miền Trung, và biếu những ai có đạo tâm muốn học hỏi. Anh có tâm nguyện làm 9 cuốn khiếp thường dùng nhất tại Việt phái mạnh, ni đã làm chấm dứt 6 cuốn và đang nguyện Tam Bảo giúp anh hoàn thành Phật sự nầy. Anh chỉ làm việc buổi sáng vì mắt anh bị cườm (cataract), phải dùng thuốc làm đến nhỏ ngươi nở to ra mới đọc được. Anh em chúng tôi khuyên anh đi mổ mắt nhưng anh nghĩ đã lớn tuổ੠rồi, vả lại tại Việt phái nam số người đi mổ mắt như vậy nhiều người bị lại nên anh để liều. Anh Lừng kể những câu chuyện nầy mang lại tôi biết và tôi lại muốn kể lại đến các bạn đồng nghiệp cùng biết."

Đoạn trích trên đây bởi vì tôi viết trước lúc tôi đọc cuốn sách dày về Gia Đình Phật Tử Việt Nam 50 năm Xây Dựng. Tôi có liên lạc tức thì với Ông Lê Quang Linch ở San Jose, là một thành viên vào Ban Điều Hợp Trung Ương GĐPT Hải Ngoại, có tên ghi sau sách để đề cập về tác giả của huy hiệu Hoa Sen và bài ca Dây Thân Ái. Tối hôm đó, Ông Linc điện thoại báo mang đến tôi biết đã tìm được tài liệu đến biết tác giả là Ông Lê Lừng, người mà tôi vừa mới kể chuyện. Chị Trương thị Châu, xưa tê hoạt động ở Khuôn Hội Vỉnh Nhơn Thành Nội Huế, là nơi tôi được gắn huy hiệu Hoa Sen và đã từng cầm tay thành vòng tròn hát bài Dây Thân Ái Lúc còn nhỏ, cũng ước ao muốn được biết vài nét về tác giả mà xưa ni không nghe ai nhắc đến. Hy vọng lần tái bản sau sẽ có in hình Ông Lê Lừng bên cạnh bài ca và huy hiệu.